Có, nhưng yếu và không đều. Trên 613 phiên 2024–2026, trị tuyệt đối basis đóng cửa của VN30F1M trung bình 4,72 và 4,86 điểm ở hai nhóm biến động cao nhất, so với 3,56–4,01 điểm ở ba nhóm còn lại; tương quan giữa hai đại lượng chỉ là 0,16.
Định nghĩa đầy đủ
Quan hệ giữa biến động và basis là câu hỏi khoảng chênh giữa giá hợp đồng tương lai và chỉ số cơ sở có giãn ra khi thị trường dao động mạnh hay không. Bài đo bằng trị tuyệt đối basis đóng cửa và ATR 14 nến khung 1 giờ tính theo phần trăm giá ở nến cuối ngày.
Lưu ý rủi ro: Nội dung mang tính giáo dục, không phải tư vấn đầu tư. Các con số mô tả quan hệ đã quan sát trên dữ liệu quá khứ, không gợi ý vào hay ra lệnh và không nói gì về basis của phiên tới. Hợp đồng tương lai dùng đòn bẩy nên lãi và lỗ đều bị khuếch đại.
Những điều cần nhớ
- Mẫu 613 phiên 2024–2026 có cả basis đóng cửa và ATR khung 1 giờ ở nến cuối ngày
- |basis| trung bình theo năm nhóm biến động: 4,01; 3,59; 3,56; 4,72; 4,86 điểm
- Tỉ lệ phiên |basis| > 5 điểm: 23,8%–28,5% ở ba nhóm thấp, 37,7% và 34,1% ở hai nhóm cao
- Tương quan giữa |basis| và atr_pct chỉ 0,16: biến động giải thích được rất ít độ rộng basis
- Basis trung bình có dấu đi từ +0,43 (nhóm thấp nhất) xuống −1,67 điểm (nhóm cao nhất)
Dữ liệu tính đến phiên 16/10/2026; số đo từ phiên bản ms-v3 và pos-v1, đã đối soát cuối ngày.
Cách đo: 613 phiên, năm nhóm biến động
Basis. Basis của một phiên là giá đóng cửa của VN30F1M trừ giá đóng cửa của chỉ số VN30, lấy từ Positioning pos-v1. Bài dùng trị tuyệt đối, ký hiệu |basis|, vì câu hỏi là basis rộng hay hẹp, không phải dương hay âm. Phân phối của basis có dấu theo từng năm được trình bày ở bài phân phối basis VN30F1M 2024–2026.
Biến động. atr_pct là ATR 14 nến khung 1 giờ chia cho giá đóng cửa, nhân 100, đọc ở nến 1 giờ cuối mỗi phiên. Dùng phần trăm thay vì điểm để các năm có mặt bằng giá khác nhau so được với nhau.
Không dùng ATR khung ngày vì ATR ngày cần 14 phiên của chính một hợp đồng, nên chỉ có ở 246 trên 688 phiên — xem bài khung ngày VN30F1M reset theo hợp đồng. ATR khung 1 giờ cũng cần 14 nến, nhưng mỗi phiên có 5 nến 1 giờ, nên chỉ trống khoảng ba phiên đầu mỗi hợp đồng.
Mẫu. 684 phiên có basis. 71 phiên không có ATR khung 1 giờ: 67 phiên đầu hợp đồng đang trong giai đoạn khởi động sau kỳ roll, 2 phiên đầu lịch sử và 2 phiên Market Structure chưa promote (02/01/2025 và 10/04/2025). Còn lại 613 phiên.
Nhóm. 613 phiên được chia làm năm nhóm theo atr_pct, mỗi nhóm khoảng một phần năm số phiên. Bốn ranh giới là phân vị 20, 40, 60, 80 (nội suy tuyến tính): 0,418%; 0,513%; 0,622%; 0,793%.
Kết quả: rộng hơn ở hai nhóm cao, nhưng không đều
| Nhóm | atr_pct (khung 1 giờ) | Số phiên | Trung bình |basis| | Trung vị | Phân vị 90 | Tỉ lệ |basis| > 5 điểm | Basis trung bình (có dấu) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Nhóm 1 | 0,27–0,42% | 123 | 4,01 | 3,67 | 8,01 | 28,5% | +0,43 |
| Nhóm 2 | 0,42–0,51% | 122 | 3,59 | 2,84 | 7,72 | 23,8% | −0,15 |
| Nhóm 3 | 0,51–0,62% | 123 | 3,56 | 2,97 | 7,81 | 27,6% | −1,21 |
| Nhóm 4 | 0,62–0,79% | 122 | 4,72 | 3,81 | 9,34 | 37,7% | −0,63 |
| Nhóm 5 | 0,79–2,41% | 123 | 4,86 | 3,58 | 9,90 | 34,1% | −1,67 |
Basis = giá đóng cửa VN30F1M − giá đóng cửa VN30, tính bằng điểm; atr_pct = ATR 14 nến khung 1 giờ ÷ giá đóng × 100 ở nến 1 giờ cuối phiên. Phân vị nội suy tuyến tính. Chuỗi gồm nhiều hợp đồng nối nhau theo vai trò tháng gần nhất.
Ba điều đọc được từ bảng:
- Ba nhóm thấp gần như ngang nhau. Trung bình |basis| là 4,01; 3,59 và 3,56 điểm. Nhóm biến động thấp nhất còn có |basis| trung bình và trung vị cao hơn hai nhóm kế tiếp. Không có bậc thang tăng dần từ nhóm 1 tới nhóm 3.
- Hai nhóm cao rộng hơn, chủ yếu ở trung bình và phần đuôi. Trung bình lên 4,72 và 4,86 điểm; phân vị 90 lên 9,34 và 9,90 điểm, so với 7,72–8,01 điểm ở ba nhóm thấp. Nhưng trung vị của nhóm 5 chỉ 3,58 điểm, thấp hơn nhóm 1 (3,67) và nhóm 4 (3,81). Phần lớn các phiên biến động cao vẫn có basis bình thường; trung bình bị kéo lên bởi một số phiên lệch xa.
- Toàn mẫu. |basis| trung bình 4,15 điểm, trung vị 3,30, phân vị 90 là 8,33.
Phần đuôi: basis lệch quá 5 điểm
Trên toàn mẫu, 30,3% số phiên có |basis| lớn hơn 5 điểm. Tỉ lệ này là 28,5%; 23,8%; 27,6% ở ba nhóm thấp và 37,7%; 34,1% ở hai nhóm cao. Chênh lệch có thật nhưng không lớn: khoảng một phiên trong ba so với một phiên trong bốn.
Trong mười phiên có |basis| lớn nhất, sáu phiên thuộc hai nhóm biến động cao, trong đó lớn nhất là phiên 25/12/2025 với basis −26,21 điểm và atr_pct 0,95%. Nhưng ba phiên thuộc nhóm biến động thấp nhất: 27/06, 01/07 và 04/07/2025, basis từ −15,89 tới −16,96 điểm trong khi atr_pct chỉ 0,36–0,42%. Basis có thể lệch xa trong những ngày giá dao động hẹp.
Chiều ngược lại cũng xảy ra. Hai phiên có atr_pct cao nhất mẫu nằm liền nhau: 08/04/2025 (1,64%) có basis −19,01 điểm, còn 09/04/2025 (2,41%) có basis +9,32 điểm. Biến động rất cao không gắn với một dấu basis cố định.
Vì sao quan hệ yếu
Tương quan 0,16 là nhỏ. Bình phương của nó, khoảng 0,026, nghĩa là theo quan hệ tuyến tính, mức biến động chỉ giải thích được khoảng 2,6% chênh lệch |basis| giữa các phiên. Trong ba nhóm biến động thấp, tương quan bên trong từng nhóm gần như bằng 0 (0,08; −0,02; 0,01).
Basis có nhịp riêng. Độ phân tán của basis co lại ở các phiên cuối trước ngày đáo hạn, như bài basis VN30F1M theo số phiên tới đáo hạn đã đo. Tỉ lệ phiên thuộc tuần đáo hạn khác nhau giữa các nhóm: 13,8% ở nhóm 1, từ 20,3% tới 26,2% ở bốn nhóm còn lại. Basis còn phản ánh chi phí vốn và việc giá ATC của hai thị trường khớp ở hai sổ lệnh khác nhau.
Quan hệ đổi theo giai đoạn. Tách theo năm, tương quan là 0,05 năm 2024, 0,07 năm 2025 và 0,26 năm 2026 (tới 16/10). Năm 2025 có cả |basis| trung bình (4,50 điểm) lẫn atr_pct trung bình (0,71%) cao hơn năm 2024 (3,43 điểm; 0,49%). Một phần tương quan của toàn mẫu đến từ việc hai giai đoạn khác nhau, không phải từ việc trong cùng một giai đoạn, phiên biến động mạnh hơn thì basis rộng hơn.
Dấu của basis lệch theo nhóm. Tỉ lệ phiên basis âm là 42,3% và 43,4% ở hai nhóm thấp nhất, 59,3%; 54,9%; 65,0% ở ba nhóm còn lại. Basis trung bình có dấu đi từ +0,43 xuống −1,67 điểm nhưng không giảm đều: nhóm 3 là −1,21, nhóm 4 là −0,63.
Giới hạn của phép đo
- Một điểm mỗi phiên. Basis đọc lúc đóng cửa, ATR đọc ở nến 1 giờ cuối ngày. Với basis trong phiên, basis z-score so với cùng giờ là thước đo phù hợp hơn.
- Hai đơn vị khác nhau. Basis tính bằng điểm, biến động bằng phần trăm giá; khi mặt bằng chỉ số đổi, cùng một mức basis có ý nghĩa tương đối khác.
- Một cách đo biến động. atr_pct ở cuối ngày đo biến động tuyệt đối của vài phiên gần nhất. Cách đo khác, như so ATR với cùng giờ của 20 phiên trước ở bài biến động VN30F1M so với cùng giờ, có thể cho kết quả khác.
- Lịch sử dựng từ nến nhà cung cấp. Trước 14/09/2026, giá đóng cửa có thể lệch nến dựng từ tick vài phần mười điểm. Ba phiên thiếu nến chỉ số không có basis và không vào mẫu.
- Mô tả, không phải nhân quả. Năm nhóm cho thấy hai đại lượng đã cùng xuất hiện thế nào trên 613 phiên quá khứ, không chỉ ra cái nào gây ra cái nào.
Câu hỏi thường gặp
Khi thị trường biến động mạnh, basis VN30F1M có rộng ra không?
Có, nhưng ít. Trên 613 phiên 2024–2026, trị tuyệt đối basis đóng cửa trung bình 4,72 và 4,86 điểm ở hai nhóm biến động cao nhất, so với 3,56 tới 4,01 điểm ở ba nhóm còn lại. Trung vị gần như không đổi giữa các nhóm, nên phần chênh lệch đến chủ yếu từ một số phiên basis lệch xa.
Vì sao dùng ATR khung 1 giờ thay vì ATR khung ngày?
Vì số đo của chuỗi VN30F1M được tính theo từng hợp đồng. ATR khung ngày cần 14 phiên của cùng một hợp đồng, nên chỉ có ở 246 trên 688 phiên lịch sử. ATR khung 1 giờ cũng cần 14 nến, nhưng mỗi phiên có 5 nến, nên chỉ trống khoảng ba phiên đầu hợp đồng và giữ được 613 phiên.
Tương quan 0,16 có nghĩa là gì?
Đó là tương quan Pearson giữa trị tuyệt đối basis và atr_pct trên 613 phiên. Giá trị dương nhưng nhỏ: bình phương của nó khoảng 0,026, tức theo quan hệ tuyến tính, mức biến động chỉ giải thích khoảng 2,6% chênh lệch độ rộng basis giữa các phiên. Tách theo năm, tương quan dao động từ 0,05 tới 0,26.
Basis âm có hay gặp hơn khi biến động cao không?
Trong mẫu này thì có. Tỉ lệ phiên basis âm là khoảng 42–43% ở hai nhóm biến động thấp nhất, và từ 54,9% tới 65,0% ở ba nhóm còn lại. Nhưng quan hệ không đều giữa các nhóm, và năm 2025 riêng nó đã có 69,9% phiên basis âm, nên khác biệt giai đoạn đóng góp một phần.
Có nên chuẩn hóa basis bằng ATR không?
Dữ liệu này không ủng hộ việc đó như một cách làm mặc định. Với tương quan chỉ 0,16, chia basis cho ATR chủ yếu đưa nhiễu của ATR vào basis. Khi cần so basis giữa các thời điểm, cách so với chính basis ở cùng giờ của các phiên trước, như basis z-score, gắn với nhịp riêng của basis hơn.
Kết quả này có dùng để dự đoán basis không?
Không. Bài đo basis và biến động của cùng một phiên, không đo phiên sau. Quan hệ quan sát được yếu, đổi theo năm, và có nhiều phản ví dụ như các phiên biến động thấp mà basis lệch quá 15 điểm. Kết quả trên dữ liệu quá khứ không bảo đảm lặp lại trong tương lai.
Nguồn tham khảo
- HNX – Hợp đồng tương lai chỉ số VN30: đặc tả hợp đồng, thời gian giao dịch và ngày giao dịch cuối cùng – hnx.vn – truy cập 19/10/2026
- HOSE – Quy tắc xây dựng và quản lý chỉ số HOSE-Index (chỉ số VN30) và thời gian giao dịch – hsx.vn – truy cập 19/10/2026
- Dữ liệu thị trường: Stockup Market Structure (
ms-v3) và Positioning (pos-v1), đã đối soát cuối ngày; nhãn do Stockup áp bảng quy tắcregime-v1lên số đo
Số liệu gắn với mẫu 613 phiên 02/01/2024–16/10/2026 và tham số ATR 14 nến của ms-v3, được rà soát định kỳ 6 tháng.
Lưu ý rủi ro: Bài viết đo quan hệ giữa hai số đo trên dữ liệu đã xảy ra, không gợi ý hành động giao dịch nào dựa trên basis hay biến động. Chứng khoán phái sinh dùng đòn bẩy — lãi và lỗ đều được khuếch đại.
Hai thứ cùng tăng chưa chắc đi cùng nhau — đăng ký bản tin Stockup để nhận các phép đo liên tầng tiếp theo trên VN30F1M.
