Dữ liệu VN30F1M đi qua bốn tầng: nến thô, số đo cấu trúc giá (Market Structure), số đo phái sinh so với cơ sở (Positioning) và nhãn trạng thái (Regime). Phiên 08/10/2026: 48 nến 5 phút, 45 nến có basis, nhãn phiên MIXED_DAY và nhãn Giá–OI SHORT_BUILDUP.
Định nghĩa đầy đủ
Bốn tầng dữ liệu là cách xếp số liệu của một hợp đồng tương lai theo thứ tự phụ thuộc: tầng thô ghi giá và khối lượng; Market Structure đo cấu trúc giá; Positioning đo quan hệ với chỉ số cơ sở; Regime gán nhãn trạng thái từ các số đo đó. Tầng sau chỉ đọc tầng trước.
Lưu ý rủi ro: Nội dung mang tính giáo dục về cách dữ liệu được tổ chức, không phải tư vấn đầu tư. Số liệu và nhãn trong bài mô tả một phiên đã qua, không gợi ý hành động giao dịch. Hợp đồng tương lai dùng đòn bẩy nên lãi và lỗ đều bị khuếch đại.
Những điều cần nhớ
- Bốn tầng: dữ liệu thô → Market Structure → Positioning → Regime; tầng sau chỉ đọc số đo của tầng trước
- Phiên 08/10/2026 của 41I1GA000: mở 1.891,1, cao 1.910,8, thấp 1.880,2, đóng 1.880,2
- 45/48 nến 5 phút có basis; 6 nến không có nhãn basis do thiếu nến chỉ số ở nến đó hoặc nến t−20
- Nhãn theo ngày: session = MIXED_DAY; oi = SHORT_BUILDUP (giá −14,2 điểm, tổng OI +9,19%)
- Nhãn của regime-v1 dùng ngưỡng khởi điểm, chưa hiệu chỉnh
Dữ liệu tính đến phiên 16/10/2026; số đo từ phiên bản ms-v3 và pos-v1, đã đối soát cuối ngày; quy tắc gán nhãn regime-v1.
Bốn tầng, bốn câu hỏi
Mỗi tầng trả lời một câu hỏi và chỉ dùng câu trả lời của tầng phía trên nó:
| Tầng | Câu hỏi | Ví dụ đầu ra | Đọc từ |
|---|---|---|---|
| 1. Dữ liệu thô | Giá, khối lượng, OI là bao nhiêu? | Nến 1 phút của hợp đồng và chỉ số VN30; OI sau phiên theo hợp đồng | Nguồn dữ liệu |
| 2. Market Structure | Giá đang có cấu trúc gì? | ATR, EMA, đỉnh đáy, trạng thái cấu trúc, vùng giá, breakout, VWAP | Tầng 1 |
| 3. Positioning | Hợp đồng đắt hay rẻ hơn chỉ số? | Basis, basis z-score | Tầng 1, lưới nến của tầng 2 |
| 4. Regime | Thị trường đang ở trạng thái nào? | Nhãn volatility, basis, structure, session, oi | Tầng 2, 3 và OI |
Quy tắc phụ thuộc này có lý do. Nếu tầng nhãn tự tính lại ATR từ nến thô, sẽ có hai phiên bản ATR trong hệ thống và không ai biết nhãn dựa trên phiên bản nào. Khi tầng nhãn chỉ đọc lại số đo, mọi nhãn truy được về đúng con số ATR, basis hay trạng thái cấu trúc thị trường đã được công bố.
Phiên 08/10/2026 qua bốn tầng
Biểu đồ dưới chồng bốn tầng của cùng một phiên: hợp đồng 41I1GA000 — tức VN30F1M trong giai đoạn này — so với chỉ số VN30, khung 5 phút.
| Nến | 41I1GA000 | VN30 | atr_14 | Basis | Cấu trúc | volatility | basis | structure |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 09:00 | 1.888,5 | không có | 4,86 | không có (index_bar_missing) | HH_HL | NORMAL | trống (index_bar_missing) | RANGE hoặc MIXED |
| 09:05 | 1.889,3 | không có | 4,72 | không có (index_bar_missing) | RANGE | NORMAL | trống (index_bar_missing) | RANGE hoặc MIXED |
| 09:10 | 1.888,6 | không có | 4,49 | không có (index_bar_missing) | RANGE | NORMAL | trống (index_bar_missing) | RANGE hoặc MIXED |
| 09:15 | 1.889,6 | 1.891,59 | 4,61 | −1,99 | RANGE | NORMAL | INDEX_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 09:20 | 1.890,5 | 1.890,65 | 4,50 | −0,15 | RANGE | NORMAL | NEUTRAL | RANGE hoặc MIXED |
| 09:25 | 1.890,7 | 1.891,15 | 4,34 | −0,45 | RANGE | NORMAL | NEUTRAL | RANGE hoặc MIXED |
| 09:30 | 1.890,6 | 1.890,78 | 4,37 | −0,18 | LH_LL | NORMAL | NEUTRAL | TREND_DOWN |
| 09:35 | 1.889,3 | 1.889,21 | 4,24 | +0,09 | LH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | TREND_DOWN |
| 09:40 | 1.890,8 | 1.891,11 | 4,16 | −0,31 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 09:45 | 1.890,1 | 1.891,20 | 4,00 | −1,10 | LH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | TREND_DOWN |
| 09:50 | 1.890,0 | 1.890,88 | 3,82 | −0,88 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 09:55 | 1.889,2 | 1.890,43 | 3,74 | −1,23 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 10:00 | 1.889,9 | 1.888,91 | 3,63 | +0,99 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 10:05 | 1.890,0 | 1.888,15 | 3,47 | +1,85 | LH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | TREND_DOWN |
| 10:10 | 1.890,4 | 1.889,07 | 3,32 | +1,33 | LH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | TREND_DOWN |
| 10:15 | 1.890,0 | 1.888,39 | 3,13 | +1,61 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 10:20 | 1.889,8 | 1.888,22 | 3,01 | +1,58 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 10:25 | 1.892,5 | 1.889,29 | 3,11 | +3,21 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | RANGE hoặc MIXED |
| 10:30 | 1.895,0 | 1.891,45 | 3,13 | +3,55 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | RANGE hoặc MIXED |
| 10:35 | 1.896,2 | 1.892,37 | 3,12 | +3,83 | LH_LL | NORMAL | NEUTRAL | RANGE hoặc MIXED |
| 10:40 | 1.904,2 | 1.897,55 | 3,51 | +6,65 | LH_LL | NORMAL | trống (index_bar_missing) | BREAKOUT_UP |
| 10:45 | 1.906,4 | 1.901,63 | 3,68 | +4,77 | LH_LL | NORMAL | trống (index_bar_missing) | BREAKOUT_UP |
| 10:50 | 1.908,0 | 1.902,69 | 3,63 | +5,31 | LH_LL | NORMAL | trống (index_bar_missing) | BREAKOUT_UP |
| 10:55 | 1.907,5 | 1.903,63 | 3,68 | +3,87 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_UP | BREAKOUT_UP |
| 11:00 | 1.906,2 | 1.900,19 | 3,64 | +6,01 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_UP | BREAKOUT_UP |
| 11:05 | 1.900,8 | 1.897,25 | 3,85 | +3,55 | LH_LL | NORMAL | CONFIRMED_UP | BREAKOUT_UP |
| 11:10 | 1.901,9 | 1.897,01 | 3,75 | +4,89 | HH_HL | NORMAL | CONFIRMED_UP | TREND_UP |
| 11:15 | 1.901,9 | 1.896,08 | 3,58 | +5,82 | HH_HL | NORMAL | CONFIRMED_UP | TREND_UP |
| 11:20 | 1.901,8 | 1.895,67 | 3,42 | +6,13 | HH_HL | NORMAL | CONFIRMED_UP | TREND_UP |
| 11:25 | 1.896,1 | 1.894,36 | 3,63 | +1,74 | HH_HL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:00 | 1.894,5 | 1.891,98 | 3,68 | +2,52 | HH_HL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:05 | 1.894,8 | 1.892,96 | 3,55 | +1,84 | HH_HL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:10 | 1.894,4 | 1.891,43 | 3,49 | +2,97 | HH_HL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:15 | 1.893,7 | 1.891,13 | 3,38 | +2,57 | HH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:20 | 1.894,0 | 1.891,57 | 3,45 | +2,43 | HH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:25 | 1.894,2 | 1.890,83 | 3,35 | +3,37 | HH_LL | NORMAL | FUTURES_LEADING | RANGE hoặc MIXED |
| 13:30 | 1.892,5 | 1.889,73 | 3,29 | +2,77 | HH_LL | NORMAL | NEUTRAL | RANGE hoặc MIXED |
| 13:35 | 1.890,8 | 1.889,61 | 3,26 | +1,19 | HH_LL | NORMAL | NEUTRAL | RANGE hoặc MIXED |
| 13:40 | 1.889,6 | 1.886,86 | 3,26 | +2,74 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 13:45 | 1.884,3 | 1.881,55 | 3,57 | +2,75 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 13:50 | 1.886,3 | 1.882,87 | 3,52 | +3,43 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 13:55 | 1.885,1 | 1.884,93 | 3,55 | +0,17 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 14:00 | 1.885,0 | 1.883,06 | 3,44 | +1,94 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 14:05 | 1.884,7 | 1.883,07 | 3,40 | +1,63 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 14:10 | 1.886,7 | 1.883,56 | 3,45 | +3,14 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | TREND_DOWN |
| 14:15 | 1.881,5 | 1.881,83 | 3,62 | −0,33 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 14:20 | 1.882,6 | 1.879,08 | 3,63 | +3,52 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
| 14:25 | 1.880,2 | 1.877,00 | 3,73 | +3,20 | HH_LL | NORMAL | CONFIRMED_DOWN | BREAKOUT_DOWN |
Khung 5 phút. "Cấu trúc" là trạng thái cấu trúc của Market Structure tại lúc đóng nến. Nhãn do Stockup áp bảng quy tắc regime-v1 lên số đo ms-v3 và pos-v1; ngưỡng là giá trị khởi điểm, chưa hiệu chỉnh; nhãn mô tả trạng thái, không phải gợi ý vào ra lệnh. "RANGE hoặc MIXED" là phần nhãn structure không tách được bằng dữ liệu công khai.
Đi từ trên xuống:
- Tầng 1. Giá mở 1.891,1, đi ngang tới khoảng 10:20, tăng lên mức cao nhất 1.910,8 trong nến 10:55 rồi giảm dần và đóng ở 1.880,2 — đúng mức thấp nhất phiên. Chỉ số VN30 chỉ có nến từ 09:15.
- Tầng 2. ATR 14 nến giảm từ 4,86 điểm ở nến 09:00 xuống 3,01 lúc 10:20, rồi dao động trong khoảng 3,1–3,9 điểm cho tới cuối phiên. Trạng thái cấu trúc LH_LL chiếm 20 nến, HH_LL 15 nến, HH_HL 8 nến, RANGE 5 nến.
- Tầng 3. Basis xoay quanh 0, phần lớn hơi âm, trong 45 phút đầu có số liệu, rồi dương dần, lên +6,65 điểm ở nến 10:40 khi hợp đồng tăng nhanh hơn chỉ số, và đóng cửa ở +3,20 điểm.
- Tầng 4. Cả 48 nến mang nhãn NORMAL (biến động bình thường so với cùng giờ). Nhãn basis có 18 nến CONFIRMED_DOWN, 11 FUTURES_LEADING, 6 CONFIRMED_UP. Nhãn structure có 12 nến TREND_DOWN, 9 BREAKOUT_DOWN, 6 BREAKOUT_UP, 3 TREND_UP và 18 nến RANGE hoặc MIXED.
Tầng 2 và 3: số đo, không phán xét
Hai tầng giữa chỉ xuất số và trạng thái mô tả, không gán ý nghĩa. Market Structure nói "trạng thái cấu trúc là LH_LL" — đỉnh gần nhất thấp hơn đỉnh trước, đáy gần nhất thấp hơn đáy trước — nhưng không nói đó là "xu hướng giảm". Positioning nói "basis là +6,65 điểm", không nói hợp đồng "đắt".
Trong tầng Positioning còn một ranh giới quan trọng: basis là số đo, đo trực tiếp từ hai mức giá; còn các nhóm dựa trên giả định về bên chủ động là ước lượng — phân biệt này được bàn ở bài số đo và ước lượng trong dữ liệu vị thế. Bài này chỉ dùng phần số đo.
Một hệ quả nhìn thấy ngay trong bảng: ba nến đầu không có basis vì chỉ số VN30 chưa có nến nào trước 09:15, như đã phân tích ở bài vì sao 15 phút đầu phiên VN30F1M không có basis. Tầng 3 để trống, không điền giá trị thay thế.
Tầng 4: nhãn chỉ đọc số đo của tầng trên
Mỗi nhãn ở tầng 4 là một phép so sánh trên số đo đã có:
- volatility so ATR của nến với trung bình ATR cùng giờ của 20 phiên trước. Ở phiên này tỉ số luôn nằm giữa hai ngưỡng 0,67 và 1,5 nên mọi nến là NORMAL.
- basis so mức đi của hợp đồng và của chỉ số trong 20 nến với ATR. Nến 10:40, 10:45, 10:50 có basis nhưng không có nhãn: nến thứ 20 trước chúng là 09:00–09:10, lúc chưa có chỉ số. Một chỗ trống ở tầng 3 làm trống nhãn ở hai nơi.
- structure xét breakout trước, rồi tới bốn phiếu xu hướng. Breakout lên ở nến 10:40 làm 6 nến 10:40–11:05 mang nhãn BREAKOUT_UP; sau đó 3 nến 11:10–11:20 đạt đủ 4/4 phiếu tăng và mang nhãn TREND_UP. Buổi chiều, breakout xuống lúc 13:40 và 13:45 đưa nhãn về BREAKOUT_DOWN.
Ví dụ minh họa về một phép so: nếu ATR của nến là 3,5 điểm và trung bình cùng giờ của 20 phiên trước là 4,0 điểm, tỉ số là 0,875 — nằm giữa 0,67 và 1,5, nhãn NORMAL. Tầng 4 không cần biết ATR được tính thế nào; nó chỉ đọc hai con số.
Hai nhãn theo ngày: session và oi
Hai trục còn lại gán nhãn cho cả phiên, sau khi phiên kết thúc.
session. Thân phiên (giá ATC trừ giá mở) là −10,9 điểm, biên độ phiên 30,6 điểm, nên thân chiếm 0,36 biên độ — dưới mức 0,6 của phiên xu hướng và trên mức 0,25 của phiên đi ngang. Nhãn: MIXED_DAY (phiên hỗn hợp), dù giá đóng đúng ở đáy phiên.
oi. Trục này dùng open interest của cả bốn kỳ hạn. Tổng OI sau phiên 08/10 là 37.631 hợp đồng, tăng 3.166 (+9,19%) so với 34.465 của phiên 07/10. Giá đóng cửa giảm 14,2 điểm, vượt ngưỡng 11,77 điểm bằng ATR 14 nến khung 1 giờ ở nến cuối phiên. Giá giảm, OI tăng: nhãn SHORT_BUILDUP. Đây là tên trạng thái Giá–OI, không phải hướng của lệnh.
OI của phiên 08/10 về hệ thống lúc 15:25 cùng ngày, sau giờ đóng cửa. Vì vậy nhãn oi của một phiên chỉ dùng được từ phiên sau — một khác biệt về thời điểm được trình bày ở bài dữ liệu trong phiên và sau phiên.
Toàn bộ sáu trục và lý do không gộp chúng thành một nhãn tổng được giải thích ở bài market regime là gì.
Câu hỏi thường gặp
Bốn tầng dữ liệu của VN30F1M là gì?
Đó là dữ liệu thô (nến giá, khối lượng, OI), Market Structure (cấu trúc giá như ATR, đỉnh đáy, trạng thái cấu trúc, breakout), Positioning (basis so với chỉ số VN30) và Regime (nhãn trạng thái). Mỗi tầng chỉ đọc số đo của các tầng phía trên, nên một nhãn luôn truy ngược được về đúng các con số đã dùng để gán nó.
Vì sao nhãn trạng thái không tính lại từ nến thô?
Để chỉ có một phiên bản cho mỗi số đo. Nếu tầng nhãn tự tính ATR hay trạng thái cấu trúc, hệ thống có hai con số cho cùng một khái niệm và không biết nhãn dựa vào con số nào. Đọc lại số đo đã công bố giúp nhãn kiểm lại được, và khi số đo được sửa thì nhãn được tính lại theo.
Tầng nào là số đo, tầng nào là ước lượng?
Tầng thô và Market Structure là số đo. Ở Positioning, basis và basis z-score là số đo vì tính trực tiếp từ hai mức giá; các nhóm dựa trên giả định về bên chủ động là ước lượng. Tầng Regime là diễn giải: nó áp quy tắc lên số đo. Bài này chỉ dùng số đo và nhãn tính được từ số đo công khai.
Vì sao có nến không có nhãn basis dù có giá?
Vì nhãn basis cần chỉ số ở cả nến hiện tại lẫn nến thứ 20 trước đó. Ba nến 09:00–09:10 thiếu chỉ số ở chính nến đó; ba nến 10:40–10:50 có basis nhưng nến thứ 20 trước chúng là 09:00–09:10. Phiên 08/10/2026 vì vậy có 6 nến 5 phút không có nhãn basis.
Nhãn oi của phiên 08/10/2026 được tính thế nào?
Tổng OI bốn kỳ hạn tăng từ 34.465 lên 37.631 hợp đồng, tức +9,19%, vượt ngưỡng 1%. Giá đóng cửa giảm 14,2 điểm so với phiên trước, vượt ngưỡng 11,77 điểm là ATR 14 nến khung 1 giờ. Giá giảm và OI tăng cho nhãn SHORT_BUILDUP — tên một trạng thái, không phải hướng lệnh.
Người đọc có xem được nhãn trạng thái trên Stockup không?
Hiện chưa. Nhãn trạng thái chưa có trang hiển thị công khai; Stockup dùng chúng trong bài viết như thế này để mô tả dữ liệu. Các nhãn trong bài được tính bằng cách áp bảng quy tắc regime-v1 lên số đo công khai, với ngưỡng là giá trị khởi điểm chưa qua hiệu chỉnh.
Nguồn tham khảo
- HNX – Hợp đồng tương lai chỉ số VN30: đặc tả hợp đồng, thời gian giao dịch và ngày giao dịch cuối cùng – hnx.vn – truy cập 19/10/2026
- HOSE – Quy tắc xây dựng và quản lý chỉ số HOSE-Index (chỉ số VN30) và thời gian giao dịch – hsx.vn – truy cập 19/10/2026
- Dữ liệu OI: Stockup, view
open_interest_daily(OI sau phiên theo hợp đồng); giá: Market Structurems-v3; nhãn theo bảng quy tắcregime-v1
Ngưỡng của regime-v1, tham số ms-v3 và pos-v1, giờ phiên và giờ OI về hệ thống được rà soát định kỳ 6 tháng; số liệu gắn với phiên 08/10/2026.
Lưu ý rủi ro: Bài viết mô tả cách dữ liệu một phiên được xếp thành các tầng và dùng số liệu đã xảy ra, không gợi ý hành động giao dịch nào dựa trên nhãn. Chứng khoán phái sinh dùng đòn bẩy — lãi và lỗ đều được khuếch đại.
Biết con số đến từ tầng nào là biết nó đáng tin tới đâu — đăng ký bản tin Stockup để đi tiếp qua từng tầng dữ liệu VN30F1M.
